TẢN MẠN NHỮNG NGÀY CUỐI NĂM

Một chiều cuối năm bên hiên nhà đầy nắng liêu xiêu hanh vàng, những khóm hoa cosmo ươm vàng rưng rức mang theo cơn gió hiu hiu lành lạnh và dường như tôi nghe rõ những âm thanh và mùi hương quen thuộc những ngày cuối năm quanh bờ rào nhà mình: mùi khói từ đống un Ba mới đốt, mùi cỏ khô, mùi nắng quê phơi trên lối con đường mòn nhỏ, mùi gió từ con sông thổi về và cả tiếng võng kẽo kẹt của Má… Những thanh âm rất bình dị đủ để lòng người bâng khuâng  chợt nhận ra không khí giáp Tết đã lặng lẽ chạm ngõ tự bao giờ.

Tôi xa nhà đã nhiều năm và lang thang mải miết sống cuộc đời mình từng mơ ước. Khi thì ngoài Hà Nội, có lúc lại trôi dạt tận Seoul xa xôi và đôi khi ngồi trên máy bay đêm ba mươi Tết đi qua tận nửa vòng trái đất… Những chuyến đi nối tiếp nhau, những vùng đất lần lượt đi qua để rồi có những mùa Tết trôi nhanh giữa dòng hối hả mà ít khi về nhà.

Khi tóc Ba Má đã phai màu sương gió và dấu thời gian hằn rõ trên gương mặt, tôi mới giật mình hoảng hốt nhận ra: mình cần phải về. Về nhà mỗi dịp Tết khi Ba Má còn đủ minh mẫn để nhận ra con cháu và để giữ lại cho chính mình những ký ức về ngôi nhà nhỏ đã nuôi tôi lớn khôn. Tôi sợ một ngày nào đó, ngay cả bản thân mình cũng trở nên mơ mơ hồ hồ, thì hình ảnh ngôi nhà cũ với chiếc cổng màu xanh bên bờ sông đầy gió, tiếng chim cuốc gọi chiều buồn hoang hoải bên sông vang lên giữa làng quê vắng lặng sẽ làm tôi đau đáu xót xa.

Những ngày giáp Tết, như một nếp quen đã thành tục lệ, Ba tôi lại tự tay đi kiếm các loại trái cây trong vườn nhà, khi thì xin thêm của hàng xóm, để “chưng dĩa quả tử”. Nào là thơm, dừa nước, mãng cầu, quýt, ớt đỏ, táo, bưởi, xoài, thanh long… đủ đầy sắc màu được Ba sắp xếp khéo léo rồi đặt trang trọng lên bàn thờ cúng Ông Bà suốt mấy ngày Tết. Tôi thường loay hoay ngồi bên, chuyền trái cây cho Ba, miệng nói luyên thuyên như thể đang “học nghề gia truyền”. Thế nhưng, từ khi Ba không còn khỏe, gian thờ nhà tôi cũng thôi vắng bóng “dĩa quả tử” rực rỡ hình này hình kia. Chị em tôi dẫu có cố gắng “học nghề” từ Ba, vẫn không thể nào chưng được những dĩa quả đẹp mắt, hài hòa như Ba đã từng.

Những ngày giáp Tết khác, nhà tôi lại rộn ràng gói bánh tét. Ba đi rọc lá chuối sau nhà, chẻ củi khô, vác từng khúc cây to về chất bên hè. Má và mấy chị em thì lau lá, đãi đậu xanh, chuẩn bị từng thứ nguyên vật liệu. Ba là người gói bánh, còn Má và chị em tôi cột dây, nhóm lửa nấu bánh. Cả nhà quây quần bên nồi bánh suốt đêm khuya lành lạnh, vừa canh lửa vừa chuyện trò, để mặc cho thời gian trôi chậm trong mùi lá chuối, mùi nếp mới và tiếng củi nổ lách tách. Giờ đây, tất cả đã trở thành thành ký ức và dấu thời gian đã lấy đi nhiều thứ tưởng chừng rất quen thuộc. Dẫu chị em tôi có cố gắng gói bánh tét, thì mùi vị ấy cũng không còn nguyên bản như khi có Ba, có Má, có cả gia đình cùng ngồi, cùng nấu và cùng cười vui. Mùi Tết năm nào hóa ra giản đơn, bình dị mà  không gì có thể thay thế.

Khi Ba thôi không còn “chưng dĩa quả tử”, khi Má thôi không còn gói bánh tét, mùi vị ngày Tết trong ngôi nhà nhỏ của tôi trở nên lặng lẽ hơn, trầm buồn hơn nhưng vẫn vương màu ấm êm hạnh phúc. Hạnh phúc bởi khoảnh khắc giao thừa vẫn còn Ba còn Má, còn đủ đầy con cháu quây quần bên nhau chúc Tết. Và hơn hết, hạnh phúc vì Ba Má vẫn còn đó, vẫn còn đủ trí nhớ để nhận ra gia đình, một điều tưởng chừng giản dị mà hóa ra lại là món quà lớn nhất mỗi mùa xuân về.

Giờ đây  mỗi mùa Tết về tôi không còn mong những điều rộn ràng hân hoan như thuở xưa nữa. Tôi chỉ mong được về nhà, lặng yên trong không gian quen thuộc nhìn Ba Má còn đó, nghe giọng nói thân thương vẫn gọi tên con cháu. Dẫu “dĩa quả tử” không còn rực rỡ như xưa, dẫu nồi bánh tét không còn tí tách lửa suốt đêm giao thừa thì Tết vẫn hiện diện trong từng khoảnh khắc sum vầy, trong ánh mắt Ba Má nhìn con cháu bằng tất cả yêu thương của những tháng năm còn lại.

Và với tôi, Tết bây giờ không nằm ở hương vị đủ đầy mà ở sự “còn”: còn Ba còn Má, còn người, còn nhà, còn ký ức để trở về. Và chỉ cần thế thôi, mùa xuân năm nào cũng sẽ là mùa xuân an yên hạnh phúc để tôi gìn giữ suốt cả một đời.

Leave a comment